Duyệt bởi
Tác giả: admin

VĂN KHẤN LỄ ĐỨC THÁNH TRẦN – TRẦN HƯNG ĐẠO

VĂN KHẤN LỄ ĐỨC THÁNH TRẦN – TRẦN HƯNG ĐẠO

VĂN KHẤN LỄ ĐỨC THÁNH TRẦN – TRẦN HƯNG ĐẠO

Đức Thánh Trần là vị nhân thần Trần Hưng Đạo,  còn được gọi là Hưng Đạo Đại Vương hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Ông là vị tướng, nhà quân sự, nhà chính trị tài ba lỗi lạc, có công lớn đối với dân tộc Việt Nam, được nhân dân Việt Nam phong thánh và lập đền thờ nhiều nơi. Hàng năm, lễ Đức Thánh Trần được tổ chức ở nhiều nơi, tùy vào địa phương mà thời gian, nghi thức có phần khác nhau.

Văn khấn lễ Đức Thánh Trần

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

– Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

– Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

– Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

– Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.

– Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

Hương tử con là: …..Ngụ tại: …..

Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ….. Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

 

Tham khảo: Văn Khấn Cổ Truyền – NXB Văn Hóa Thông Tin

VĂN KHẤN THÁNH MẪU LIỄU HẠNH NGÀY 3 THÁNG 3 ÂM LỊCH

VĂN KHẤN THÁNH MẪU LIỄU HẠNH NGÀY 3 THÁNG 3 ÂM LỊCH

VĂN KHẤN THÁNH MẪU LIỄU HẠNH NGÀY 3 THÁNG 3 ÂM LỊCH

Thánh Mẫu hay còn gọi là công chúa Liễu Hạnh, thánh Mẫu Liễu Hạnh, bà chúa Liễu, Liễu Hạnh… là một vị thần trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Thánh Mẫu được người dân tôn thờ từ hàng nghìn năm qua, được coi là “Mẫu nghi thiên hạ – mẹ của muôn dân”. Đền thờ của bà có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trên cả nước Việt Nam.

Văn khấn thánh Mẫu Liễu Hạnh

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

(lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con xin kính lạy Thánh mẫu Liễu Hạnh, Chế thắng Hoà Diệu, Đại vương Tối linh chí linh.

Mấu Đệ nhất thiên tiên!

Mấu Đệ nhị thượng ngàn!

Mấu Đệ tam thoải cung!

Hương tử con là …..

Ngụ tại …..

Hôm nay là ngày …..

Tại: Phủ ….., phường /xã/quận/huyện/tp …..

Thành kính dâng lễ vật,

Cung thỉnh Tam Toà Thánh Mẫu, vua cha Ngọc Hoàng, Tam phủ công đồng, Tứ phủ vạn linh, hội đồng các Quan, Bát bộ Sơn trang, Thập nhị quan Hoàng, Thâp nhị chầu Cô, Thập nhị quan Cậu, Ngũ lôi thiên tướng, Ngũ hổ thần quan, Thanh Bạch xà Thần linh, chấp kỳ lễ bạc chứng giám phù hộ độ trì cho hương tử con được hưởng: Gia quyến mạnh khoẻ, bình an, đắc lộc, đắc thọ, bách sự như ý.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

(lạy)

Truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh

Căn cứ vào các tài liệu lịch sử và truyền thống văn hóa Việt Nam, truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh được lưu truyền trong dân gian như sau:

3 lần giáng sinh:

Lần 1

Vào thời Hậu Lê, tại trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Nam Định) có gia đình vợ chồng là ông Phạm Huyền Viên và bà Đoàn Thị Hằng là người ăn ở có đức. Hai vợ chồng này sống với nhau đã già mà chưa có mụn con. Một hôm, bà Hằng đêm nằm chiêm báo được Ngọc Hoàng ban cho đứa con gái là công chúa Hồng Liên. Ngày rằm tháng 2 năm Quý Sửu, ông Viên ngồi ngoài hiên nhà thấy có bóng nàng tiên giáng trần cũng là lúc bà Hằng hạ sinh cô con gái nhỏ. Ông bà thấy linh ứng nên đặt tên con gái là Phạm Tiên Nga.

Tiên Nga được cha mẹ nuôi dưỡng, nổi tiếng xinh đẹp, đến năm 15 tuổi có nhiều gia đình giàu có trong vùng đến hỏi cưới nhưng nàng vì muốn chăm sóc cha mẹ già mà nhất quyết không chấp thuận. Đến khi ông bà mất thì nàng để tang cha mẹ 3 năm. Sau đó nàng đi khắp nơi đem tấm lòng lương thiện mong cứu giúp nhân dân. Những công lao của bà được nhân dân ghi lại bao gồm:

  • Ngăn nước Đại Hà từ bên kia núi Tiên Sơn, nay là đường đê Ba Sát; cùng đó xây 15 cây cầu đá, bố thí dân nghèo, chữa bệnh, xây chùa, xây trường…
  • Dựng chùa Kim Thoa bên sông Đồi, thờ mẹ Nam Hải Quán Âm và cha mẹ;
  • Tu sửa chùa Sơn Trường (Ý Yên, Nam Định), chùa Long Sơn (Duy Tiên, Hà Nam), chùa Thiện Thành (Bình Lục, Hà Nam). Cũng tại Bình Lục, Hà Nam, thấy dân nghèo không có đất làm ăn, bà giúp dân khai khẩn, hướng dẫn trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt dạy dân nghề trồng dâu, nuôi tằm.
  • Năm Nhâm Thìn bà về quê cho xây nhà thờ tổ họ Phạm, đôn đốc nhân dân làm ăn, truyền bá tư tưởng đạo đức.

Năm Quý Tỵ (1473), 40 tuổi, bà quy tiên về trời, người dân thương sót, tưởng nhớ công ơn của bà đã cho xây Phủ Đại La Tiên Từ và Phủ Quảng Cung.

Lần 2

Gần 100 năm sau, vào năm Đinh Tỵ (1557) bà lại giáng trần, đầu thai làm con gái một gia đình tại hạt Nam Sơn Hạ, nay là Vụ Bản, Nam Định. Cha bà là ông La Thái Tiên nhìn mặt con gái đẹp như tiên, rạng rỡ như hình nàng tiên trong bức họa Thiên Đình nên đặt cho nàng tên là Lê Giáng Tiên. Sau khi trưởng thành bà kết hôn với chồng là Trần Đào Lang, có hai người con, con trai tên Nhân, con gái tên Hòa. Năm 21 tuổi bà quy tiên, nhân dân lập đền thờ bà là Phủ Dầy tại Vụ Bản, Nam Định.

Lần 3

Sau khi mất, Giáng Tiên theo lệnh Ngọc Hoàng về trời, ôm nỗi nhớ chồng con, cha mẹ day dứt khôn nguôi, bà bèn hiện về trong hình dáng tiên nữ ngay buổi gia đình làm lễ tang, làm mọi người hết sức hoảng hốt. Bà kể lại sự tình cho gia đình và dân chúng nghe, sau đó vẫn thường giáng trần trong hình hài tiên nữ để chăm sóc chồng con, động viên người chồng tu chí. Đến sau này khi con cái trưởng thành, ông Đào Lang công thành danh toại bà mới từ biệt, phiêu bạt khắp nơi cứu độ chúng sinh.

Quy y Phật Tổ

Theo lưu truyền trong dân gian, Giáng Tiên thường hóa hiện thân mình khắp nơi để cứu giúp chúng dân, trừng trị kẻ ác.  Lần cuối cùng bà giáng trần là ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa. Vua Lê Chúa Trịnh bấy giờ nghe tin vậy cho rằng Ngọc Hoàng Thả yêu nên nhờ tướng Tiền Quân Thánh đem các thuật sĩ tài giỏi đi bắt bà về. Bà chống không lại nên hiện thân thành con rồng đinh bay lên trời thì bị tướng Thánh thả lưới bắt, đúng lúc đó có Phật Tổ cảm kích tâm nguyện của bà nên hóa phép cứu giải, ban cho bà mũ áo cà sa, bà nhận áo mũ rồi theo Phật tổ về quy y cửa Phật.

Thời gian & địa điểm

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 âm lịch (ngày giỗ của bà) tại các địa điểm là:

Phủ Dầy – Vụ Bản, Nam Định,

Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) – Ý Yên, Nam Định,

Phủ Tây Hồ – Hà Nội,

Phủ Đồi Nang, Đền Dầu, Đền Quán Cháo – Ninh Bình,

Đền Sòng – Bỉm Sơn, Thanh Hóa,

Đền Sòng Sơn – 35 Tôn Đức Thắng, P. Quốc Tử Giám, Q. Đống Đa, Hà Nội.

 

VĂN KHẤN MẪU THƯỢNG NGÀN – LÂM CUNG THÁNH MẪU

VĂN KHẤN MẪU THƯỢNG NGÀN – LÂM CUNG THÁNH MẪU

VĂN KHẤN MẪU THƯỢNG NGÀN – LÂM CUNG THÁNH MẪU

Mẫu Thượng Ngàn hay còn gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn. Bà là một trong ba vị Mẫu (cùng với mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải) được thờ cúng trong điện, cạnh đình, chùa của người Việt Nam.

Theo truyền thuyết, Mẫu Thượng Ngàn là con gái của Sơn Tinh và công chúa Mỵ Nương. Sau khi cha là Sơn Tinh về trời làm thánh, bà thay cha cai quản hết thảy rừng núi nước Nam. Nhờ dốc sức cai quản núi rừng, muông thú, đem tâm nguyện cứu giúp nhân dân nên bà được Ngọc Hoàng phong thánh và ban cho quyền lực muôn đời được cai quản núi rừng.  Những người đi rừng, khai thác khoáng sản trong rừng, muốn được bình yên ở nơi rừng thiêng nước độc, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ của bà.

Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn làm lễ trước các trận đánh để cầu xin bà phù hộ, sau chiến thắng đều làm lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là công chúa. Theo truyền thuyết, trong cuộc khởi nghĩa chống nhà Minh xâm lược, có lần quân Lam Sơn bị bao vây trong rừng, đánh cho tan tác, bà đã hóa thân thành bó đuốc lớn soi đường cho đoàn quân rút chạy an toàn về núi Chí Linh. Về đến Chí Linh bà lại phù hộ cho đội quân có thêm sức mạnh trước cảnh rói rét, ngày đêm rèn luyện binh khí rồi phản kích giải phòng vùng Nghệ An, là tiền đề cho cuộc chiến dành thắng lợi trước nhà Minh, dành độc lập cho dân tộc.

Văn khấn Mẫu Thượng Ngàn

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức chúa Thượng Ngàn đỉnh thương cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương ngọc điện hạ.

Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể.

Con kính lạy chư Tiên, chư Thánh chư Thần, Bát bộ Sơn trang, thập nhị Tiên Nàng, Thánh cô Thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng.

Hương tử con là …..

Ngụ tại …..

Nhân tiết …..Chúng con thân đến phủ chúa trên ngàn, đốt nén tâm hương kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện. Cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh, phù hộ độ tri cho chúng con cùng cả gia quyến chín tháng đông, ba tháng hè được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

DaquyVietnam,

Tham khảo: văn khấn cổ truyền

VĂN KHẤN THẦN THÀNH HOÀNG KHI LỄ ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU, PHỦ

VĂN KHẤN THẦN THÀNH HOÀNG KHI LỄ ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU, PHỦ

VĂN KHẤN THẦN THÀNH HOÀNG KHI LỄ ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU, PHỦ

Trong văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, tại các thôn, xóm, làng thường có lập đình, miếu, phủ thờ các vị thần, gọi là thờ Thành Hoàng. Vậy tín ngưỡng Thành Hoàng có ý nghĩa gì và lễ bái, văn khấn thần Thành Hoàng như nào?

Thành Hoàng

Trước hết, khi nói đến Thành Hoàng thì chúng ta hiểu chữ “Thành” ở đây có nghĩa là cái thành. Chữ “Hoàng” nghĩa là cái hào bao quanh. Vậy khi ghép hai chữ Thành-Hoàng có nghĩa là cái thành bao bọc và bảo vệ một vùng dân cư, như vậy Thành Hoàng là chỉ các vị thánh thần bảo vệ đời sống của người dân, được người dân thờ phụng trong đình làng.

Thành Hoàng cũng có nhiều vị thần, cũng được phân chia ra nhiều thứ hạng khác nhau, trong đó:

Thượng thần là mức cao nhất, chỉ những vị thần vô hình trong sự tích, được lưu truyền nhiều đời như Quý Minh Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử… hoặc những vị thần là người đã có công lớn lao đối với dân tộc như Hưng Đạo Vương, Lý Thường Kiệt…

Trung thần là mức trung, là những vị thần có trong giai thoại, sự tích của một làng, được người dân thờ phụng đã lâu, không rõ công trạng, tên tuổi.

Hạ thần là thần ở mức thấp nhất, thường được thờ trong khu vực dân cư nhỏ như thôn, xóm.

Ngoài ra, còn một số thần “bậy bạ” được một số người tự vẽ vời, biến hóa như thần trộm cắp, thần tà dâm, thần cờ bạc… đây là những tà thân, ma giáo không được công nhận.

Những Thành Hoàng được thờ nhiều trong văn hóa Việt Nam

Những vị Thành Hoàng được người dân thờ phụng nhiều nhất như:

Thần núi: Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh,…

Thần sông: Lạc Long Quân, Tô Lịch Giang Thần, Thủy Bá Đại Vương…

Thần đất: Hậu Thổ Phu Nhân, thần Bản Cảnh…

Nhân thần: Vua Hùng, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo…

Sắm lễ

Tùy vào văn hóa vùng miền, hoặc mỗi làng có phong tục tập quán khác nhau, thờ vị Thành Hoàng khác nhau mà hình thức, lễ nghi cũng khác nhau. Khi đi đình, đền, miếu nào thì nên tham khảo người dân trước đình để sắm lễ cho phù hợp.

Văn khấn Thành Hoàng

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

Con lạy chính phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương,

Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần,

Con kính lạy ngài Kim Niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần,

Con kính lạy ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương,

Hương tử con là …..

Ngụ tại …..

Hôm nay là ngày …..tháng …..năm…..

Hương tử con đến nơi ….. thành tâm kính lễ.

Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

Nam Mô A Di Đà Phật! (lạy),

 

 

VĂN KHẤN BỒ TÁT QUAN ÂM

VĂN KHẤN BỒ TÁT QUAN ÂM

VĂN KHẤN BỒ TÁT QUAN ÂM

Trong văn học, văn hóa dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật, có thể nói Quan Thế Âm Bồ Tát có địa vị rất cao, chỉ sau Phật tổ.

Điều này được lý giải là do Quan Âm là vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh, giống như tên gọi của ngài có nghĩa là “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian”. Khắp thế gian hễ ở đâu có người đau khổ là có Quan Âm đến cứu giúp, chính lòng từ bi này mà Quan Âm Bồ Tát rất được dân gian sùng bái.

Trong mọi ngôi chùa ở Việt Nam, đều thờ tượng Phật Tổ, Quan Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát mà ít khi thấy những vị bồ tát khác. Người Việt Nam hầu hết cũng đều thờ Quan Âm trong nhà.

Quan Âm bồ tát cũng chính là Từ Hàng đạo nhân trong Phong thần diễn nghĩa Ở Việt Nam, Nguyên phi Ỷ Lan được nhân dân gọi là Quan Âm Nữ, được thờ ở Chùa Bà Tấm.

Tham khảo: Tổng hợp các bài văn khấn

Văn khấn Bồ Tát Quan Âm

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con Nam mô Đại từ, Đại bi, tầm thinh cứu khổ cứu nạn, Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám.

Tín chủ con là …..

Ngụ tại: số nhà/tổ/phường/xã/quận/huyện/tỉnh/thành.

Hôm nay là ngày …..tháng …..năm …..(Âm lịch)

Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng.

Cúi xin được Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành. Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nguồn: Văn khấn cổ truyền – XNB Văn hóa Thông tin.

daquyvietnam.info